NHNN đã tụ họp nghiên cứu, xây dựng Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng, đồng thời khai triển ngay những biện pháp giảm thiểu rủi ro, bảo đảm an toàn cho hệ thống phê chuẩn việc cơ cấu lại một số nhà băng yếu kém cần ưu tiên tập kết xử lý.
Đối với nguồn vốn xử lý nợ xấu, theo dự định, Chính phủ không dùng tiền ngân sách để xóa nợ cho các ngân hàng. Bốn là, tăng cường quản trị rủi ro và nâng cao hiệu lực và hiệu quả của thanh tra, giám sát nhà băng. Ngân hàng quốc gia cần có chính sách kiểm soát để các NHTM nâng cao chất lượng tài sản, kiểm soát chất lượng tín dụng, giảm nợ xấu và điều quan yếu là cần đẩy nhanh, dứt điểm tái cơ cấu các TCTD.
Ngân hàng quốc gia cần kiểm tra kỹ lưỡng hơn để đảm bảo giới hạn về tỷ lệ sở hữu theo Điều 55 của Luật các TCTD. NHNN đã ban hành Thông tư số 35/2011/TT-NHNN (bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/4/2012) quy định về việc ban bố và cung cấp thông báo của ngân hàng quốc gia. Dù rằng việc công bố thông báo này so với trước đây đã cho thấy ráng sáng tỏ hóa hoạt động của ngành nhà băng, song song hợp với các bước đi khác trong quá trình tái cấu trúc tổng thể toàn ngành, nhưng những thông tin này vẫn cần được ban bố đến công chúng bởi với cơ chế sáng tỏ thông tin, nhất là công khai về xử lý nợ xấu sẽ tạo ra một hệ thống ngân hàng phát triển lành mạnh, làm nền tảng cho việc tái cơ cấu tất tật nền kinh tế.
Giải pháp xúc tiến tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Năm 2013 là năm thực hiện những nội dung trong tuổi hai của Đề án về lành mạnh hóa tài chính với việc tụ họp xử lý nợ xấu. Tình hình thực hành tái cơ cấu hệ thống nhà băng năm 2012 Trong hai năm gần đây, đặc biệt sau quyết nghị Hội nghị Trung ương 3 khóa XI, việc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng được đặt ra và có lộ trình cụ thể.
Kinh nghiệm quốc tế và thực tế Việt Nam cho thấy có 6 phương thức xử lý nợ xấu chính yếu sau: 1- Cơ cấu lại nợ; 2- Miễn giảm lãi và phí tín dụng; 3- Mua, bán nợ; 4- dùng quỹ đề phòng rủi ro để xử lý; 5- Xử lý, phát mại tài sản đảm bảo để thu hồi nợ; 6- Chuyển nợ thành vốn góp. Năm là, giải quyết vấn đề sở hữu chéo của các ngân hàng. Song song, một vấn đề quan yếu là số chi phí cho tái cơ cấu là bao lăm và lấy từ những nguồn lực nào thì chưa được chỉ rõ trong Đề án cơ cấu lại các TCTD.
Ngày 1/3/2012, Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD đã được Thủ tướng Chính phủ thông qua theo Quyết định số 254/QĐ-TTg. Như vậy, có thể nói, năm 2013 là năm trung tâm của chương trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng để hướng tới mục tiêu có thể kết thúc chương trình vào năm 2015. Vn đặt Theo tapchicongsan. Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm cho việc xử lý các NHTM cổ phần yếu kém thời gian qua chậm hơn so với kế hoạch dự định.
Ngoại giả, những nội dung của chương trình tái cơ cấu trong thời đoạn ba cũng đã được NHNN chuẩn bị bằng việc ban hành một số văn bản, như: Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/1/2013 quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp lập ngừa rủi ro và dùng phòng ngừa để xử lý rủi ro trong hoạt động của TCTD. Duyệt y các biện pháp khác nhau, NHNN sẽ giám sát chặt và tiến hành chỉ đạo sắp xếp để không gây ra những đảo lộn, vỡ vạc, song song đảm bảo tối đa quyền lợi của người gửi tiền.
Ngay sau đó, Thống đốc NHNN đã ký Quyết định số 734/QĐ-NHNN ban hành Kế hoạch hành động của ngành ngân hàng khai triển thực hiện Đề án, trong đó phân công rõ ràng nhiệm vụ của từng đơn vị theo các lịch trình cụ thể và triển khai đồng bộ, quyết liệt những giải pháp để tiến hành cơ cấu lại hệ thống các TCTD hạp với đích, định hướng và lộ trình nêu tại Đề án.
Hai là, tập trung xử lý nợ xấu bằng nhiều biện pháp.
Các tổ chức tín dụng (TCTD) loại này dự định sẽ được NHNN quy định lĩnh vực hoạt động để đảm bảo ăn nhập với phân khúc của thị trường, nhằm phát huy được tiềm năng, thế mạnh và đảm bảo an toàn cho toàn thể hệ thống. Đặc biệt, NHNN đã trình Chính phủ Đề án thành lập Công ty Mua bán nợ nhà nước tụ tập để xử lý trên quy mô lớn nợ xấu nhằm khơi thông dòng chảy vốn tín dụng cho nền kinh tế.
Cụ thể, NHNN đã đưa ra một loạt các quy định nhằm tạo điều kiện cho các NHTM tái cơ cấu lại nợ, giãn nợ, giảm lãi suất, đẩy mạnh thủ tục pháp lý để xử lý nợ,… NHNN cũng trình Chính phủ để Chính phủ trình Quốc hội cho phép miễn giảm một số loại thuế, phí đối với các ngân hàng được xử lý mua, bán, sáp nhập. Vn. Trong các giai đoạn tái cấu trúc hệ thống nhà băng sau khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 và thời đoạn 2007 - 2009, nguồn tài chính cho việc xử lý các ngân hàng yếu kém thường được xác định bao gồm: 1- Tăng tỷ lệ sở hữu của các nhà đầu tư nước ngoài và đề nghị họ cam kết bán lại theo một hạn khăng khăng; 2- Quốc hữu hóa nhất thời các nhà băng cổ phần yếu kém có nguy cơ mất khả năng thanh khoản cao; 3- Sáp nhập, thống nhất và mua lại các nhà băng; 4- sử dụng nguồn vốn của Chính phủ để tăng vốn tự có hoặc tương trợ thanh khoản cho các ngân hàng.
Để thay thế Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN về việc ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và dùng đề phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động nhà băng của TCTD; các quyết định về chỉ tiêu an toàn hệ thống, về công khai, minh bạch tài chính, về chuẩn mực kế toán và vắng tài chính,.
Những khó khăn, thách thức: Tiến trình tái cơ cấu ngân hàng còn chậm so với kế hoạch đặt ra; tuy tốc độ tăng nợ xấu có giảm nhưng quy mô nợ xấu còn rất lớn và suốt cả năm 2012 vẫn chưa có biện pháp xử lý cơ bản khoản nợ này; công tác quản trị, điều hành của một số TCTD còn thấp; năng lực thanh tra, giám sát của NHNN còn yếu,.
Đặc biệt là, thanh khoản bằng đồng Việt Nam (VND) diễn biến như sau: 1- Số dư tiền gửi của TCTD tại NHNN luôn cao hơn so với yêu cầu dự trữ tấm, trung bình dư thừa khoảng 28. Đẩy nhanh tái cơ cấu đầu tư công, bao gồm cả việc xử lý nợ tồn đọng xây dựng cơ bản. Bởi thế, rủi ro hệ thống vẫn còn tồn tại và một cuộc khủng hoảng thanh khoản vẫn có thể xảy ra bất cứ lúc nào do ảnh hưởng của nợ xấu.
Đánh giá chung tiến trình tái cơ cấu ngân hàng sau 1 năm thực hiện Kết quả đạt được : Tái cơ cấu nhà băng đã đạt được kết quả bước đầu. Tuy nhiên, nguồn tiền này lấy từ đâu lại là vấn đề khi mà chính cơ quan quản lý tài chính của Chính phủ là Bộ Tài chính cũng không xác định được Quỹ dành cho tái cơ cấu là bao lăm. Để thực hành được 4 mục tiêu trên, đầu năm 2012, NHNN đã tiến hành một số giải pháp như phân loại hệ thống nhà băng thương nghiệp (NHTM) Việt Nam thành 3 nhóm lớn để xác định mức rủi ro: Nhóm thứ nhất gồm các ngân hàng có tình hình tài chính lành mạnh, có năng lực, quy mô đủ lớn để tiếp phát triển thành những ngân hàng cột trụ trong hệ thống NHTM.
Lãi suất trên thị trường liên nhà băng giảm mạnh từ mức trên 20% xuống còn 10% - 12%/năm, tùy thuộc vào kỳ hạn. Thành ra, NHNN cùng với các cơ quan quản lý, giám sát giúp các nhà băng nhỏ tầm các đối tác nhằm nâng cao năng lực vốn, năng lực quản trị, điều hành, đảm bảo thanh khoản và an toàn vốn.
Quyết định này tạo hành lang pháp lý quan yếu để xử lý các nhà băng yếu kém và đề ra một lộ trình đến năm 2015. Để thực hành những nội dung này, cần thực hành một số giải pháp tái cơ cấu như sau: Một là , hoàn thiện một bước quan trọng phạm vi pháp lý về tiền tệ, hoạt động nhà băng, đặc biệt là các quy định an toàn hoạt động nhà băng để tương trợ cho quá trình tái cơ cấu các TCTD.
000 tỷ đồng/tháng; 2- Hoạt động thị trường liên ngân hàng đã được chỉnh đốn theo hướng minh bạch hơn.
Theo lộ trình, năm 2012, NHNN đã đề ra 3 nội dung chính là: 1- Củng cố thanh khoản hệ thống ngân hàng mà trọng tâm là thanh khoản một số ngân hàng có vấn đề; 2- Lành mạnh hóa tài chính của các NHTM mà trọng điểm là xử lý nợ xấu và minh bạch hóa tài chính; 3- Tái cơ cấu tổ chức, hoạt động và quản trị hệ thống ngân hàng.
Trong đó, đáng để ý là an toàn hệ thống các TCTD được cải thiện rõ rệt; nguy cơ vỡ vạc hệ thống từng bước được đẩy lùi; tài sản của quốc gia và quần chúng được đảm bảo an toàn; tiền gửi của dân chúng vẫn chi trả thường nhật, kể cả ở ngân hàng yếu kém. Ngoài ra, mặc dù ý kiến của Đề án Tái cơ cấu là khuyến khích các ngân hàng tự nguyện sáp nhập, NHNN sẽ hỗ trợ thanh khoản trong trường hợp các ngân hàng quá yếu kém, không có khả năng chi trả.
Trên thị trường không xuất hiện các cuộc đua lãi suất huy động tiền gửi công khai.
Do hoạt động quản trị rủi ro trong toàn hệ thống nhà băng hiện còn kém xa so với các chuẩn quốc tế. Tăng trưởng huy động vốn từ dân cư khá cao, kể cả nội tệ và ngoại tệ; 3- Các TCTD đã mua một lượng lớn trái khoán chính phủ để cơ cấu lại đầu tư và đề phòng thanh khoản; hoạt động của các TCTD, về căn bản, an toàn, lành mạnh, trật tự kỷ cương thị trường được khôi phục và duy trì ổn định.
Org. Thứ tư , thiếu nguồn lực tài chính công để có thể tương trợ cho việc xử lý nợ xấu, lành mạnh hóa và nâng cao năng lực tài chính của hệ thống TCTD, từ đó làm chậm tiến trình cơ cấu lại TCTD. Thứ hai , việc cơ cấu lại hệ thống các TCTD và xử lý các TCTD yếu kém là vấn đề khôn cùng phức tạp, mẫn cảm, liên tưởng đến quyền, bổn phận, ích của nhiều bênvà mất nhiều thời kì để thanh tra, kiểm toán nhằm đánh giá thực trạng tài chính của từng ngân hàng với nhiều thủ tục, quy định.
Trong khi đó, các văn bản ngân hàng còn nhiều bất cập và chế tài chưa đủ mạnh khiến cho những NHTM Việt Nam chưa thực sự quan hoài đến vấn đề quản trị rủi ro theo chuẩn mực quốc tế. Ba là, xúc tiến hoạt động mua lại, sáp nhập , nâng cao khả năng tự chủ tài chính của nhà băng. Về tổng thể, thanh khoản của hệ thống các TCTD được bảo đảm và cải thiện đáng kể. Các TCTD từng bước cơ cấu lại hoạt động theo hướng lành mạnh; tích cực lành mạnh hóa tài chính chuẩn y tăng vốn điều lệ để cải thiện các chỉ tiêu lành mạnh tài chính và an toàn hoạt động; hệ thống quản trị, kiểm soát và kiểm toán nội bộ được chú trọng củng cố.
Thứ ba, sự thiếu cộng tác hoặc chống đối từ phía cổ đông lớn của các NHTM cổ phần yếu kém đối với các chính sách, biện pháp cơ cấu lại của NHNN đã gây khó khăn cho quá trình cơ cấu lại các nhà băng này.
Trong khi đó, việc xử lý các TCTD yếu kém đòi hỏi phải nhanh để hạn chế tổn thất và ảnh hưởng đến an toàn hệ thống. Các phí tổn liên hệ tới tái cơ cấu hệ thống ngân hàng sẽ là lớn, vì hệ thống nhà băng của Việt Nam là một trong những hệ thống lớn nhất so với hệ thống ngân hàng của các nước có cùng hạng điểm tín nhiệm.
000 tỷ đồng), do đó, các nhà băng này chẳng thể tự tái cấu trúc nếu không có sự trợ giúp từ bên ngoài. Về vấn đề thanh khoản: Năm 2012, thanh khoản của toàn hệ thống nhà băng đã được củng cố và ổn định, một số nhà băng nhỏ do đã ngăn chặn được nguy cơ mất khả năng thanh toán vào cuối năm 2011 đang hoạt động ổn định trở lại, các nhà băng đã chú trọng hơn trong việc quản trị rủi ro thanh khoản.
Giải pháp tổng thể xử lý nợ xấu và các “nút thắt” gây ra nợ xấu bao gồm: “phá băng” thị trường bất động sản, giải quyết hàng tồn kho cho doanh nghiệp, xúc tiến tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước.
Theo Đề án cơ cấu lại các TCTD, đến cuối năm 2015 các TCTD mới đạt mức vốn tự có đủ để bù đắp rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro tác nghiệp theo quy định của Hiệp ước vốn Basel 2. Bên cạnh đó, các phí khác can hệ đến việc thực hành những giải pháp tái cơ cấu của chính các TCTD, như phí tổn đánh giá chất lượng tài sản; sắp xếp lại, giải tán các TCTD thua lỗ, phá sản; hoài đền bù cho người gửi tiền; nâng cao năng lực quản trị, hoạt động của các TCTD; phí thoái vốn, rút khỏi lĩnh vực đầu tư phi tài chính… thậm chí cũng chưa được đề cập đến.
Nhóm thứ hai là các nhà băng có tình hình tài chính lành mạnh nhưng quy mô còn nhỏ, khó có điều kiện để phát triển, mở mang quy mô hơn nữa. Về tái cơ cấu tài chính, tổ chức và hoạt động: Trên thực tiễn, các nhà băng nhỏ trong diện buộc phải tái cơ cấu trong năm 2012 đều có vốn điều lệ dưới mức quy định tối thiểu (3.
Như vậy, sau 1 năm tái cơ cấu nhà băng những kết quả đạt được còn chưa như mong muốn bởi một số duyên cớ sau: Thứ nhất, phạm vi pháp lý cho việc cơ cấu lại các TCTD nói chung chưa hoàn thiện , như thiếu cơ chế can thiệp, xử lý của Nhà nước đối với các TCTD yếu kém dẫn đến xử lý chưa kịp thời, dứt điểm pháp nhân của các TCTD yếu kém; hồ hết các NHTM Nhà nước đã được cổ phần hóa nên hạn chế khả năng tham dự xử lý các TCTD yếu kém ưng chuẩn sáp nhập, mua lại; thiếu các cơ chế, chính sách, khuyến khích miễn, giảm thuế, phí để tương trợ TCTD trong xử lý nợ xấu và các tài sản đảm bảo tiền vay cũng như trong các giao dịch sáp nhập, thống nhất, mua lại của quá trình tái cơ cấu TCTD.
Sáu là, tăng cường sáng tỏ thông báo. Quá trình chấn chỉnh, củng cố và cơ cấu lại hệ thống các TCTD phải hạn chế tới mức thấp nhất tổn thất và hoài của ngân sách quốc gia trong xử lý những vấn đề của hệ thống các TCTD. Một trong những ý kiến nhất quán của Chính phủ và NHNN trong việc cơ cấu lại là không để xảy ra vỡ lẽ và mất an toàn hoạt động ngân hàng ngoài tầm kiểm soát của quốc gia.
Mỗi giải pháp đều có những ưu, nhược điểm riêng và mang lại một số hiệu quả nhất thiết cho các nước áp dụng.
Nguồn tài chính thực hiện tái cơ cấu bao gồm: Nguồn tái cấp vốn cho các nhà băng gặp yếu kém về thanh khoản, nguồn xóa nợ và xử lý nợ xấu, phí tổn xử lý và giải quyết các TCTD vỡ, phí tổn có liên can đến việc thực hành những giải pháp tái cơ cấu chính.
(*) Tít bài do FinancePlus. Nhóm thứ ba là nhóm TCTD đang có tình hình tài chính khó khăn, buộc phải thực hiện tái cơ cấu(1) bằng nhiều hình thức, như đề nghị các nhà băng lớn tham gia mua cổ phần, dự quản trị điều hành và cơ cấu lại các khoản mục đầu tư, mua lại hoặc thống nhất, sáp nhập.
Tăng nhanh quy mô và năng lực tài chính chuẩn y tăng vốn để đảm bảo đủ mức vốn tự có theo tiêu chuẩn an toàn vốn của Hiệp ước vốn Basel 2 đến năm 2015, duyệt y phát hành cổ phiếu bổ sung và nguồn vốn từ Chính phủ; mua lại, sáp nhập TCTD và mở mang nguồn vốn huy động.
Trong Đề án đã chỉ ra NHNN sẽ chịu trách nhiệm tái cấp vốn cho các TCTD yếu kém, sử dụng nguồn trích lập phòng ngừa rủi ro của các TCTD để xóa nợ và bán nợ qua Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp thuộc Bộ Tài chính và các công ty mua bán nợ của những TCTD; đối với các khoản nợ do chủ trương cho vay hỗ trợ chính sách của Chính phủ, dùng nguồn NSNN để xóa nợ.
Cuối năm 2011, Chính phủ và nhà băng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã xác định 4 đích cơ bản của tái cơ cấu hệ thống ngân hàng là: 1- Lành mạnh hóa hệ thống nhà băng; 2- Xây dựng hệ thống ngân hàng có đủ sức cạnh tranh trong và ngoài nước; 3- Cấu trúc lại cơ cấu hoạt động của hệ thống nhà băng để bảo đảm cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ cho nền kinh tế một cách hợp lý; 4- Hệ thống nhà băng phải đáp ứng được đề nghị hội nhập quốc tế càng ngày càng sâu rộng của Việt Nam.
Các TCTD yếu kém có nguy cơ đổ vỡ đã được NHNN kiểm soát chặt và từng bước được xử lý bằng những giải pháp hạp nhờ đó thị trường tiền tệ dần đi vào ổn định.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét