Thứ Ba, 17 tháng 12, 2013

DATC muốn “xã hội hóa” mới nhất việc xử lý nợ xấu.

Dài hạn

DATC muốn “xã hội hóa” việc xử lý nợ xấu

Cụ thể. Hạn chế khả năng cuốn và phân bổ nguồn lực tài chính tới các vùng miền khác của cả nước Các định chế tài chính vẫn còn nhiều yếu kém như trình độ quản trị doanh nghiệp còn nhiều bất cập lên đường từ vấn đề cơ cấu sở hữu.

Đại diện Công ty mua bán nợ và Tài sản tồn đọng của doanh nghiệp (DATC) đưa ra 3 kiến nghị.

Đặc biệt một số TCTD đã đầu tư lớn vào bất động sản dẫn đến mất khả năng thanh toán. Nhóm lợi. Đây là nguy cơ làm tăng khả năng mất vốn của các TCTD.

884 tỷ đồng (trong đó từ mua nợ chỉ định là 336 tỷ đồng).

Tính đến cuối năm 2012 định chế tài chính là ngân hàng thương nghiệp có mức vốn điều lệ lớn nhất là Agribank chỉ 29. Thứ nhất là coi xét nâng cấp quy mô hoạt động. Ngành ngân hàng hoạt động kém hiệu quả Đại diện DATC đưa ra nhận định: Các ngân hàng ở Việt Nam thiếu những định chế tài chính có quy mô lớn.

Theo DATC. Kết quả hoạt động xử lý nợ xấu tại DATC từ 2006 đến nay Theo ông Thường. Cụ thể năm 2011. Nước ngoài là 1. 3%. Theo số liệu của NHNN thì tổng nợ xấu nội bảng của toàn hệ thống là 142. 95%. Các doanh nghiệp được tái cơ cấu hoạt động có hiệu quả. Kết quả. Mức độ tụ hội tín dụng đối với một số khách hàng và nhóm khách hàng can dự rất lớn.

Dẫn đến làm ảnh hưởng đến hoạt đông nhà băng. Nợ xấu can hệ đến bất động sản chiếm tỷ trọng lớn. Malaysia 18. Cho phép DATC phát hành trái phiếu Chính phủ bảo lãnh để mua nợ của các TCTD. Bằng 106% tổng số tiền đã chi để mua nợ. Nợ xấu giao hội cao ở nhóm NHTM Nhà nước Kể từ cuối năm 2008.

6 nghìn tỷ chỉ tương đương khoảng 1. Chừng độ an toàn thấp Cơ cấu nguồn vốn không ổn định. Quy mô vốn và mô hình hoạt động của DATC theo hướng chuyển đổi mô hình và nâng cấp DATC thành Tổng công ty xử lý nợ quốc gia trực thuộc Chính phủ. Pháp luật trong hoạt động ngân hàng chưa được chặt chẽ mức độ an toàn của hệ thống tài chính chưa cao. 700 tỷ đồng. 93% được mua từ năm 2007 đến 30/6/2013.

23%. 27 nghìn tỷ đồng. Màng lưới các định chế tài chính tụ hợp chính yếu ở khu vực thị thành. Nhằm giúp doanh nghiệp khách nợ hoạt động hiệu quả.

Chiến lược kinh dinh của không ít các định chế tài chính kém bền vững.

Nhất là sở hữu chéo ngày càng phức tạp. NHTM cổ phần là 1. 87% được thu hồi từ 2007 đến 30/6/2013.

6% tổng nợ xấu của các TCTD Việt Nam. Trong bối cảnh thị trường bất động sản suy giảm. ROE của các NHTM quốc gia là 4. Nguy cơ tiềm tàng nợ xấu từ số nợ nhóm 2 đang chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu dư nợ. Gồm 2. Số nợ đã mua là 9. Hoạt động mua bán nợ gắn với tái cơ cấu doanh nghiệp. 64% tổng dư nợ. Chủ yêu tăng trưởng về quy mô và tụ tập vào các lĩnh vực có chừng độ rủi ro cao để tạo lợi nhuận lớn hơn Năng lực tài chính.

Hoạt động sinh sản kinh doanh của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn do tác động của nền kinh tế Việt Nam và suy thoái kinh tế toàn cầu. Đáng để ý. Bằng 29. Thiếu sự hợp tác dẫn đến việc tuân kỷ cương. DATC kiến nghị thành lập 1 số công ty cổ phần có vốn điều lệ khoảng 2. Tạo nguồn trả nợ. 9% trong khi ROE của Indonesia 25.

Và sở hữu chéo giữa các TCTD lớn làm cho tính lệ thuộc lẫn nhau giữa các TCTD và rủi ro hệ thống tăng cao. Thu Trang - Người Đồng Hành.

Mất cân đối nghiêm trọng về kỳ hạn giữa nguồn vốn và sử dụng vốn do lấy vốn ngắn hạn cho vay trung. Hiệu quả kinh doanh. Thái Lan 13. 9%. Cạnh tranh của các định chế tài chính còn thấp.

Trong đó một bộ phận các định chế tài chính hoạt động kém hiệu quả. Tính sáng tỏ trong hoạt động ngân hàng chưa cao. Số tiền thu hồi từ xử lý nợ đã mua là 2. Kỷ luật. Chiếm 4. Hoạt động xuyên nhà nước.

Chính sách. Philippines 13. Cuốn sự tham gia góp vốn vào hoạt động xử lý nợ xấu của các thành phần kinh tế. Khi những khách hàng này gặp khó khăn về tài chính cũng có nghĩa là rủi ro nợ xấu và tổn thất vốn đối với TCTD sẽ tăng cao. Thứ hai là bổ sung vốn điều lệ.

Số lượng các định chế tài chính Việt Nam hiện giờ là nhiều. 1% mệnh giá và 36 tỷ mua nợ chỉ định. Buộc phải tăng huy động vốn bằng mọi giá. Dự phòng rủi ro chưa được trích lập đầy đủ và tương hợp với chừng độ rủi ro.

3 tỷ USD Khả năng sinh lời của các hệ thống TCTD ở mức khá thấp so với mức độ rủi ro thực tế và so với các nhà băng trong khu vực và trên thế giới. Phân bổ không đều. Tỷ trọng nợ xấu hội tụ cao ở nhóm NHTM Nhà nước chiếm tới chiếm 48. Đến cuối tháng 8/2013. 9%. Gia tăng nợ xấu của các TCTD. 275 tỷ đồng (trong đó số nợ chỉ định là 336 tỷ đồng). DATC đã tái cơ cấu được 56 doanh nghiệp. NH liên doanh.

6% Sự cạnh tranh giữa các định chế tài chính còn chưa lành mạnh. 90% nợ xấu được mua từ NHTM Nhà nước. Về giá mua nợ. 000 tỷ đồng do DATC nắm giữ cổ phần từ 36%-49% nhằm tầng lớp hóa.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét