Thứ ba, gồm các hộ ông Hoàng Bá Viết, Hoàng Ngọc Đô, Lê Văn Xởn thôn Giảng Tín; Hoàng Bá Đoàn thôn Hữu Lộc, xã Trúc Lâm đất ở được xác định có cội nguồn trước ngày 18/12/1980. Năm 1987 cửa hàng mua bán giải tán bán lại cho gia đình ông Kiệm. Như vậy, diện tích đất còn lại của các hộ phải được đền bù giá đất ở liền kề trong cùng thửa.
Đất ở thuộc khu vực nông thôn nhưng khi lập phương án bồi hoàn, UBND huyện Tĩnh Gia quyết định phân lô các thửa để áp giá bồi hoàn theo các mức giá khác nhau, gây thiệt thòi kinh tế cho dân, vi phạm Điều 56 Luật Đất đai 2003 và Điều 9 Nghị định 188/2004/NĐ-CP. Các hộ nhận đất làm nhà tre tạm để ở, trồng màu.
Không tin sự vô tư lự của Hội đồng xử án cấp sơ thẩm và phúc thẩm, 14 hộ dân tiếp khiếu nại lên VKSND Tối cao; TAND vô thượng, yêu cầu xem xét lại 14 vụ án hành chính của các hộ dân xã Trúc Lâm thấu tình đạt lí, trả lại lòng tin cho quần chúng.
Điều 24 Luật Đất đai 1993 quy định, UBND cấp xã không có thẩm quyền thu hồi và cho thuê đất. Các hộ đã được cấp sổ đỏ năm 1994 trên thửa đất ở được giao từ năm 1979, phải được xác nhận là đất ở. Sự phán quyết không công tâm, thiếu pháp lí Dân khởi kiện hành vi hành chính của cán bộ UBND huyện Tĩnh Gia khi thực thi nhiệm vụ thu hồi, bồi hoàn đất để thực hiện Dự án Xây dựng đường Đông - Tây 2, Khu Kinh tế Nghi Sơn là trái pháp luật.
Theo dõi các phiên tòa, các bản án đều được quan toà chuẩn bị đánh máy sẵn trước khi xét xử, nên những quan điểm bàn cãi tại tòa không được đưa vào bản án. Thứ hai, các hộ ông Lê Thanh Bắc, ông Nguyễn Đình Trương, ông Lê Văn Đức, ông Lê Văn Luân, bà Lê Thị Lệ… năm 1979 được Ban Chủ nhiệm hiệp tác xã quy mô toàn xã cấp đất làm nhà ở, thuộc khu đất giãn dân theo quy hoạch.
Điều 87, xác định diện tích đất ở đối với trường hợp có vườn, ao, tại khoản 2, Điều 87: “Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành trước ngày 18/12/1980 và người dùng có một trong các loại giấy tờ về QSDĐ quy định tại các khoản 1, 2 Điều 50 của Luật này thì diện tích đất vườn, ao đó được xác định là đất ở”.
14 hộ dân thôn Giảng Tín và thôn Hữu Lộc, xã Trúc Lâm, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa tụ tập vào 4 nhóm nội dung: Thứ nhất, ông Hoàng Trọng Kỳ, bà Lê Thị Lệ, ông Lê Văn Luân có đất vỡ hoang từ năm 1980 sử dụng ổn định, không tranh chấp.
Năm 1994, các hộ được UBND huyện Tĩnh Gia cấp GCNQSDĐ (sổ đỏ). Khi lập phương án bồi hoàn, các hộ ông Luân, ông Kỳ và bà Lệ chỉ được đền bù 200m2 đất ở, diện tích đất còn lại cùng thửa không được đền bù. Cho nên, khi lập phương án bồi hoàn, Hội đồng GPMB không tính cho các hộ diện tích đất ở có vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở trước ngày 18/12/1980 là không hợp lí.
Không đồng ý với cách giải quyết nêu trên, hai hộ ông Kỳ và bà Lệ yêu cầu UBND xã công khai đơn xin thuê đất của các hộ và phiếu thu lợi tức thuê đất hằng năm, quyết định giao đất của UBND huyện cho các hộ thuê, nhưng UBND xã không cung cấp được.
Rõ ràng UBND xã Trúc Lâm (nếu có giao kèo cho hộ ông Kỳ và bà Lệ thuê đất trước ngày 1/10/2001) là trái với quy định của luật pháp và hợp đồng (nếu có) cũng không có hiệu lực pháp lí. Vậy mà khi thu hồi đền bù, hơn 340m2 trong thửa đất chỉ được tính là lục địa kề. Do từ ngữ hướng dẫn trong các Nghị định khó hiểu, không hợp nhất, còn nhiều bất cập, chồng chéo, dẫn đến việc hiểu khác nhau của Hội đồng công nhận cỗi nguồn đất của địa phương, nên các hộ nêu trên không được xác nhận là đất ở có cỗi nguồn trước ngày 18/12/1980.
Thế nhưng, tại TAND huyện Tĩnh Gia, hồ hết quan toà chủ tọa phiên tòa có chồng, con là cán bộ UBND, Huyện ủy huyện Tĩnh Gia. 450m2 làm đất ở. Chỉ sau khi Luật Đất đai 2001, có hiệu lực sau ngày 1/10/2001, thì UBND cấp xã mới có thẩm quyền cho thuê đất công ích.
Thời điểm đó nhiều hộ còn quá khó khăn, khi cha mẹ cho ở riêng, chưa có điều kiện làm nhà kiên cố nên chỉ có nhà tạm. Nguồn gốc khu đất này là của gia đình ông Lê Văn Thấc từ trước năm 1957, đến năm 1972 chiến tranh ác liệt gia đình ông Thấc sơ tán vào làng, UBND xã dùng khu đất này làm cửa hàng mua bán (không có quyết định trưng thu).
Trong đơn khởi kiện, các hộ yêu cầu được bồi hoàn diện tích đất còn lại trong cùng thửa đất ở giá lục địa kề là có cơ sở.
Hơn nữa, diện tích đất các hộ đang dùng đã có tên trong sổ mục kê và bản đồ địa chính đo vẽ năm 1997, thì không thể cho là đất các hộ thuê của xã.
Luật và các bằng cớ rõ như vậy mà hai cấp Tòa án hành chính sơ thẩm huyện Tĩnh Gia và Tòa án hành chính phúc án tỉnh Thanh Hóa bác hoàn toàn nội dung đơn của các hộ, là không hạp với luật định.
Do cửa hàng đã ở, nên gia đình ông Thấc không đòi lại đất ở cũ. Các hộ yêu cầu đất ở có nhà trong cùng một thửa trước ngày 18/12/1980 phải được bồi thường một giá. Phải chăng phiên tòa chỉ là hình thức để tuyên các bản án đã được chỉ đạo? vì thế, 14 hộ dân xã Trúc Lâm khởi kiện quyết định hành chính và hành vi hành chính của chính quyền đều bị Tòa bác đơn một cách thiếu thuyết phục.
Biên bản Hội đồng xét nguồn cội đất của UBND xã Trúc Lâm tháng 6/2006 xác định, thửa đất ông Kiệm có cội nguồn đất ở trước ngày 18/12/1980, trong bản đồ 299 và sổ mục kê đăng kí là thổ cư.
Năm 1993, UBND xã Trúc Lâm lấy của mỗi hộ 200m2 đất khai khẩn các hộ đang dùng, bán lại cho chính họ làm nhà ở. Tòa án hành chính huyện Tĩnh Gia có vi phạm luật tố tụng? Điều 18 Luật Tố tụng Hành chính quy định: “Chánh án Tòa án, quan toà, Hội thẩm quần chúng.
Riêng hộ ông Luân được bồi hoàn theo giá đất nông nghiệp đối với diện tích đất còn lại. Điều 8, Nghị định 197/2004 tại khoản 3, điểm b về điều kiện được bồi hoàn: “có tên trong sổ đăng kí ruộng nương, sổ địa chính”. Đề nghị Quốc hội, Bộ Tư pháp, TAND Tối cao, VKSND Tối cao sớm coi xét thành lập Tòa án khu vực, để Tòa án không còn bị chi phối lệ thuộc của những người ra quyết định hành chính và thực hành hành vi hành chính.
Năm 1997, đo vẽ bản đồ địa chính và đăng kí sổ mục kê: Thửa đất phá hoang của ông Hoàng Trọng Kỳ thuộc tờ bản đồ số 11, thửa 329 có diện tích 542,27m2. Vì các vụ án hành chính “kiện quan” nên có sự buộc ràng trong mối quan hệ, do đó các vụ án nêu trên đều bị bác đơn “dân thua kiện”.
Điểm đ… đất phi nông nghiệp sử dụng ổn định lâu dài thì hộ gia đình, cá nhân chủ nghĩa được sử dụng ổn định lâu dài. Không đồng ý với các hành vi hành chính của UBND huyện Tĩnh Gia, 14 hộ dân khởi kiện ra Tòa khi Luật Tố tụng Hành chính có hiệu lực. Và, sau phiên tòa đó, ông không tham dự xét xử vụ án nào nữa. #, Thư kí Tòa án, Viện trưởng Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên, người thông ngôn, người giám định không được tiến hành hoặc tham dự tố tụng, nếu có lí do chính đáng để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi thực hành nhiệm vụ, quyền hạn của mình”.
Quan toà Lê Thị Hạnh, Chủ tọa phiên xử vụ kiện hành chính của ông Lê Văn Đức ngày 8/2/2012, chồng là ông Nguyễn Kim Khuê, Chuyên viên Phòng Tư pháp huyện Tĩnh Gia… Một tía, Đại tá CCB, là Hội thẩm dân chúng một trong những vụ án hành chính nói trên phải lắc đầu, nhận xét là “bất công”.
Năm 1981 họ mới làm nhà gỗ, nhưng đã có (nhà tạm ở từ trước năm 1980). Hai cấp Tòa án hành chính sơ thẩm huyện Tĩnh Gia và Tòa án hành chính phúc thẩm tỉnh Thanh Hóa bác hoàn toàn nội dung đơn của các hộ, thật khó hiểu! Thứ tư: Năm 1987, hộ ông Lê Văn Kiệm mua khu đất cửa hàng mua bán của UBND xã Trúc Lâm, diện tích 1.
BGPMB và UBND xã Trúc Lâm giải thích, diện tích đất còn lại trong thửa là đất các hộ thuê của UBND nên không được bồi thường. Bà Lê Thị Lệ, đất khai khẩn thuộc thửa số 336, tờ bản đồ số 11 diện tích 360m2; đất khai hoang của ông Lê Văn Luân thuộc thửa 196, tờ bản đồ số 11, diện tích 740m2.
Khoản 1, Điều 41: “Những trường hợp phải khước từ hoặc đổi thay người tiến hành tố tụng… Đồng thời là đương sự, người đại diện, người nhà thích của đương sự”. Ví dụ: Thẩm phán Lê Thị Xạ, Phó Chánh án TAND huyện Tĩnh Gia, Chủ tọa phiên xử vụ kiện hành chính của ông Hoàng Bá Đoàn ngày 22/3/2012, có chồng là ông Lê Hồng Kỳ, Trưởng ban Khuyến nông huyện Tĩnh Gia.
Ngày 28/6/2007, UBND huyện Tĩnh Gia ra quyết định số 409/QĐ-UBND thu hồi đất của các hộ giao cho Ban quản ngại Khu Kinh tế Nghi Sơn thực hành Dự án Đường Đông - Tây 2, khi các thửa đất số 329 của ông Kỳ, số 336 của bà Lệ, số 196 của ông Luân đều nằm trong khu dân cư, liền kề các hộ đã có nhà ở ổn định.
Việt Hoàn. Theo Điều 68, Luật Đất đai 2003, thời hạn dùng đất khi chuyển mục đích dùng đất, tại khoản 1, điểm d, trường hợp chuyển đất nông nghiệp sang dùng vào mục đích phi nông nghiệp… thời hạn sử dụng đất được tính từ Thời điểm chuyển mục đích sử dụng đất.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét