Nghe kể khi ấy, những chiếc nón lá do các nghệ nhân làng Chuông làm ra còn được chọn làm quà biếu cho các hoàng hậu, công chúa trong cung
Theo lời giới thiệu của cán bộ thôn, chúng tôi tìm đến những gia đình làm nón lành nghề của làng Chuông, được tận mắt chứng kiến công việc làm nón. Hành trình đi tìm "hồn" cho nón làng Chuông trằn trọc nuối tiếc nghề cổ, sau một thời kì mày mò để tìm cách khôi phục nghề làm nón của làng Chuông, ông Hai Cát - một nghệ nhân của làng đã quyết tâm ra chốn kinh kỳ đấu theo nghiệp làm nón quê nhà.
Công đoạn này đòi hỏi người thợ phải rất cẩn thận, căn sao cho nhiệt độ vừa phải để lá không bị cháy, hoặc bị sống vì không đủ độ nóng. Lá được lấy từ Quảng Bình, Phú Thọ. Chị Tạ Thị Hương, thợ làm nón lành nghề của làng Chuông được mệnh danh là "đại sứ nón làng" từng làm những chiếc nón khổ lớn có đường kính hơn 3 m để chào đón SEA Games 22 và Hội nghị APEC tâm can: Cái nghề này nó tẳn mẳn lắm, làm nón mà nóng ruột thì không làm được.
Trên đường về tôi cứ liên miên nghĩ: Thật may mà có các bà, các chị làng Chuông vì yêu nghề và muốn níu giữ cái hồn quê nên vẫn đang ngày ngày cần mẫn, kĩ càng làm nên những chiếc nón trong guồng quay của thời gian để đưa hình ảnh chiếc nón Việt vươn xa hơn nữa. Họ bảo nghề làm nón của làng Chuông ngày trước thịnh lắm, cả làng đều làm nón.
Hơn thế người làng Chuông rất cẩn thận khi xếp tầng lớp lá vào vòng nón, một lớp mo tre và một lớp lá nữa rồi mới khâu. Hơn nữa, nếu bỏ nghề thì con cháu sẽ làm sao tiếp nối được nghề truyền thống của tiên nhân? Câu nói của chị Hà khiến tôi thật sự bịn rịn với mảnh đất này.
Nghề cổ. Đến những bàn tay khéo tạo nên đặc sắc nón Chuông Từ đó, nghề làm nón làng Chuông lại nối nức tiếng không chỉ khắp trong nước mà vang xa ra tận nước ngoài. Hỏi chuyện nghề làm nón, chừng như trong làng Chuông ai cũng biết, nhưng khi hỏi nghề làm nón ở đây có từ bao giờ thì lại ít ai rõ.
Và những Trăn trở để bảo tồn nón Việt Làm được những chiếc nón đẹp đã khó, việc lo tiêu thụ sản phẩm càng khó hơn. Ngay cả dọc hai bên đường, cũng bắt gặp những chiếc nón trắng phơi mình dưới ánh nắng sớm làm không khí thật xôn xao. Thành ra, số người làm nón không nhiều như trước nữa, phần lớn người dân đã chuyển sang làm nghề khác. Nhất là khâu nón là công đoạn đòi hỏi phải cẩn thận, đôi bàn tay khéo lách từng mũi kim đường chỉ, sao cho mềm mại, thẳng đều từ trong ra ngoài, không cẩn thận sẽ rách ngay.
Nên, một chiếc nón vài năm trước bán được từ 70 nghìn đến 80 nghìn đồng thì giờ chỉ còn 50 nghìn đồng thậm chí là ít hơn. Tuy không nhộn nhịp như các làng nghề khác, nhưng cũng vẫn dễ nhận ra cái dáng dấp của một ngôi làng với nghề cổ.
Phiên chợ Chuông bên triền đê sông Đáy náo nhiệt, nờm nợp, kẻ mua người bán những vật liệu làm nón, như lá cọ, vành nón, chỉ khâu,. Với đôi bàn tay của người thạo nghề cùng với chút sáng tạo của tuổi xanh, ông Hai Cát dốc sờ soạng vốn liếng mua nguyên liệu về làm nón Huế. Chị Hà tâm sự: Cũng vì thu nhập chẳng đáng bao nhiêu, nên nhiều lúc cũng muốn bỏ nghề để kiếm việc khác có thu nhập cao hơn lắm.
Vòng nón làm bằng tre vót nhỏ, đều, tuyệt đối không được cong vênh. Nhờ nhân tài, tiếng tăm của ông Hai Cát, sau một năm, số người quay về làng học nghề làm nón càng ngày càng đông, làm hồi sinh lại nghề nón làng Chuông sau 30 năm tưởng sẽ không bao giờ làm nón nữa. Đó là làng Chuông. Thế hệ nọ truyền Thế hệ kia, nhưng chủ yếu là những người nữ giới có bàn tay khéo và sự tận tường, cần cù, nhẫn nại.
Ông trở về quê hương với nghề làm nón mới cùng với sáu giấy phép dạy nghề làm nón xuyên suốt từ Hà Đông, Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng.
Sang trọng thời gian và thay đổi của đời sống, nhưng những chiếc nón vẫn theo các bà, các mẹ, các chị hằng ngày không chỉ che mưa, che nắng mà còn tạo nên cái "duyên" rất đặc sắc, trở thành nét văn hóa của dân tộc Việt, làm ngỡ ngàng bao du khách nước ngoài.
Theo các cụ bô lão: Từ lâu lắm cả vùng Bắc Bộ ai cũng biết tới câu ca lưu truyền trong dân gian kể về làng nghề làm nón cổ: "Muốn ăn cơm trắng cá hẻn/ Muốn đội nón đẹp thì về làng Chuông".
Ngôi làng nhỏ bé luôn nhộn nhịp khách ra vào. Về vò trong cát rồi phơi nắng đến khi mầu xanh của lá chuyển sang mầu trắng bạc, mỏng tanh, nhưng phải bền, dai, phẳng mà không giòn, không rách. Nón được sinh sản nhiều loại, dùng cho nhiều từng lớp như nón thúng quai thao cho các cô gái; nón nhô, nón long, nón dấu, nón chóp cho các chàng trai và những người đàn ông qua.
Nón làng Chuông chỉ nhìn lướt qua cũng dễ dàng nhận ra ngay, vì chỉ có nón làng Chuông mới có 16 lớp vòng, giúp nón có độ bền chắc nhưng vẫn mềm mại.
Tiếc thay, do có một thời kì nền kinh tế khủng hoảng, cả làng rơi vào tình trạng sa sút, người làng bỏ đi hết, cũng thành thử nên những kỹ thuật làm nón ấy đã bị thất truyền. Lúc bấy giờ, nón Huế lên ngôi và được chuộng ở chốn kinh kì. Làm nón quai thao tại làng Chuông. Nhưng cứ nghĩ đến việc các cụ ông cha phải bôn ba, khó nhọc mới gây dựng được, nên đành cố giữ lấy nghề, dẫu nó không giàu, nhưng cũng thêm thắt chút ít vào thu nhập cho gia đình.
Năm 1930, ở hội chợ Trường Đấu Xảo, Hà Đông, nón của ông Hai Cát đã được đánh giá rất cao và chính quyền sở tại đã cấp giấy hành nghề, hiệp hội làm nón chứng nhận chất lượng cao. MINH TƯ. Chiếc nón lá từ bao đời nay đã gần gụi, quen thuộc đối với người nữ giới Việt Nam, chẳng hề phân biệt giàu - nghèo, hèn - sang, từ người dân cày đến các thiếu nữ nơi thành phố.
Đến những chồng nón trắng nuột. Nhìn bàn tay thoăn thoắt luồn những đường chỉ gắn từng vòng để tạo nên chiếc nón mới thấy được cái nghề làm nón không chỉ đòi hỏi sự chuyên cần mà còn phải khéo như thế nào. Trước khi đưa lá vào khuôn nón phải được là phẳng bằng cách miết trên chiếc lưỡi cày được hơ nóng. Theo quốc lộ 21B, chúng tôi tìm về làng Chuông (còn gọi là làng Phương Trung, huyện Thanh Oai, Hà Nội), ngôi làng nổi tiếng với nghề làm nón có từ hàng trăm năm.
Nhất là khi hiện tại, nhu cầu sử dụng nón không còn nhiều như trước, giá thành của mỗi chiếc nón cũng quá rẻ. Các chị làng Chuông cho biết: Để tạo ra chiếc nón đẹp, người làm nón phải rất cẩn thận trong việc chọn lọc vật liệu.
Cũng theo các cụ trong làng thì thời hoàng kim của nghề làm nón là vào ba thập niên đầu thế kỷ 20. Chị Hà, thợ làm nón lành nghề của làng Chuông cho biết: giờ, người chọn nón để đội không còn nhiều.
Bởi những lý do đó mà có một ngôi làng hôm sớm vẫn đang thầm lặng giữ gìn hồn của nón Việt. Nón khâu xong phải hơ qua diêm sinh và phết một lớp dầu thông mỏng để nón không bị mốc trong thời tiết ẩm hay mưa.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét