Mặt khác, IMS vinh dự được Đảng, quốc gia hai lần trao tặng giải thưởng quốc gia về khoa học và công nghệ cũng như nhiều giải VIFOTEC
Riêng sản phẩm máy phát thủy điện nhỏ với ba loại công suất 200W, 500W và 1. Gần đây nhất (năm 2011 - 2012) IMS là đơn vị chủ trì dự án cộng tác quốc tế về kỹ thuật chiếu sáng tằn tiện năng lượng được khai triển tại khá nhiều địa phương trong cả nước.
GS, TS Nguyễn Quang Liêm, Viện trưởng IMS cho biết: Kể từ năm 2008, viện mở mang lĩnh vực nghiên cứu, hình thành được một số nhóm khoa học khá mạnh, vừa nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng, vừa trọng tổ chức khai triển và chuyển giao các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn đời sống. Cùng với nghiên cứu cơ bản, Viện đã tích cực khai triển áp dụng các kết quả nghiên cứu vào sản xuất, kinh doanh.
Từ năm 2006, nhất là năm năm gần đây, hàng ngũ của IMS đã triển khai, thực hành 20 đề tài cấp quốc gia thuộc các chương trình khoa học và công nghệ trung tâm, chương trình nghiên cứu căn bản định hướng áp dụng. Nhưng kết hợp ăn nhịp giữa nghiên cứu cơ bản, đào tạo nhân lực chất lượng cao và triển khai ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào sinh sản, kinh doanh thì Viện Khoa học vật liệu (IMS) làm được nhiều việc hơn cả.
Phân viện khoa học vật liệu tại TP Hồ Chí Minh khoảng 10 năm trở lại đây, đã nghiên cứu thành công công nghệ chế tác nhiều loại nguyên liệu ứng dụng có hiệu quả hoặc có triển vọng vận dụng rộng rãi.
Viện đã và đang thực hiện 51 đề tài nghiên cứu căn bản thuộc quỹ phát triển khoa học - công nghệ quốc gia (NAFOSTED); gần 20 đề tài thuộc bảy hướng ưu tiên của VAST, và một số đề tài, dự án cộng tác quốc tế theo Nghị định thư. Ở mảng vật liệu truyền thống các nhóm nghiên cứu của IMS đi sâu phát triển các nghiên cứu về kim khí, hợp kim có tính năng đặc biệt (như siêu cứng, chịu mài mòn, chống chịu nhiệt độ cao).
Sinh sản vật liệu pô-li-me phục vụ sản xuất nông nghiệp tại Viện Hóa học. Với nguồn nhân công khoảng 300 người, trong đó có hơn 20 GS và PGS, ba TSKH, hơn 60 TS.
Với sự nỗ lực không ngừng trong nghiên cứu và sáng tạo, từ năm 2005 đến nay, hàng ngũ cán bộ của IMS đã có hơn 200 công trình khoa học được ban bố trên các tạp chí quốc tế có uy tín.
Đến nay, tuy chưa đạt được thành quả lớn, song IMS đã chủ động nguồn mẫu cho nghiên cứu căn bản và các nghiên cứu định hướng vận dụng trong nông - y - sinh học, năng lượng tái tạo và bảo vệ môi trường. Đó là nghiên cứu, chế tạo nam châm đất hiếm NdFeB ứng dụng vào sản xuất máy phát thủy điện nhỏ và các máy tuyển từ được sử dụng khá rộng rãi trong công nghiệp sinh sản nguyên liệu ở nước ta.
Chả hạn như nghiên cứu cấu trúc, tính chất quang điện tử và quang tử, tính chất điện - từ của các loại vật liệu. Nhất là quan hoài việc tìm ra vật liệu hấp phụ cấu trúc Na-nô để xử lý ô nhiễm nước sinh hoạt, nguyên liệu xúc tác Na-nô hoạt động ở vùng nhiệt độ thấp dùng xử lý ô nhiễm môi trường khí.
Công nghệ Na-nô, một lĩnh vực còn non trẻ ở nước ta, nhưng viện đã đi tiền phong nghiên cứu cách đây hơn 10 năm do sự chủ xướng của GS, Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu. Song song, mở rộng hoạt động nghiên cứu về công nghệ tuyển khoáng, công nghệ chế biến tinh khoáng sản để nâng cao giá trị mặt hàng xuất khẩu.
Trong đó, phải kể đến các vật liệu xúc tác xử lý khí thải, vật liệu Aluwat xử lý nước sinh hoạt bị nhiễm ô-xít sắt; thiết bị lọc nước mặn thành nước ngọt bằng phương pháp thẩm thấu ngược phục vụ đời sống của người dân khu vực Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long.
Nhờ có phòng thí điểm trọng điểm nhà nước về vật liệu và linh kiện điện tử (đầu tư 55 tỷ đồng), IMS triển khai, thực hiện các nghiên cứu về vật liệu mới, nguyên liệu tiền tiến mà trong nước và thế giới quan tâm.
Nghiên cứu về vật liệu truyền thống và nguyên liệu mới, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST) có các đơn vị như Viện Khoa học vật liệu áp dụng tại TP Hồ Chí Minh, Viện Hóa học, Viện Nghiên cứu và áp dụng công nghệ Nha Trang cũng như một số khoa thuộc các Trường đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Bách khoa Hà Nội. 000W không chỉ được dùng cho đồng bào dân tộc thiểu số vùng cao Bắc Cạn, Lào Cai mà còn được một tổ chức nhân đạo quốc tế hiệp đồng sinh sản hàng nghìn máy để cung cấp cho các vùng khó khăn ở châu Á và châu Phi.
Đặc biệt, tro bay (làm phụ gia) được nghiên cứu, sản xuất từ xỉ than thải loại của các nhà máy nhiệt điện của IMS đã phục vụ thiết thực cho xây dựng công trình thủy điện Sơn La trên sông Đà.
NGUYỄN KHÔI. Từ đây, IMS đang thúc đẩy các hoạt động cấp thiết để sớm thành lập một trung tâm khoa học và công nghệ Na-nô tiền tiến đạt trình độ khu vực và quốc tế, theo chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam thời đoạn 2011 - 2020 như Thủ tướng Chính phủ đã phê chuẩn.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét